🐏 Tư Cách Tố Tụng Là Gì
Thời hiệu khởi kiện trong vụ việc dân sự là gì? Theo quy định tại khoản 1 Điều 184 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015: "Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự". Theo đó, Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được
Như vậy, theo những quy định trên thì Trợ giúp viên pháp lý chỉ được tham gia tố tụng để bào chữa với tư cách là người đại diện thay mặt thay mặt hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bảo vệ quyền lợi của đương sự; dẫn đến việc tổ
Trang bị truy tố về tội Giết người và Hành hạ người khác, tổng hợp khung hình phạt cao nhất là tử hình. Thái bị cáo buộc tội Hành hạ người khác và Che giấu tội phạm, cao nhất là 8 năm tù. Ngân Nga
Đây là câu hỏi được nhiều người thắc mắc khi tìm hiểu về chủ đề Mascot là gì. Đầu tiên, như đã chia sẻ, Mascot giúp truyền tải lĩnh vực kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ của thương hiệu mà không cần sử dụng đến ngôn từ. Con người luôn tiếp thu và ghi nhớ thông tin
Trong tố tụng dân sự, chứng minh là một dạng hoạt động tố tụng, cụ thể là hoạt động sử dụng chứng cứ với mục đích tái hiện lại trước Tòa án vụ việc dân sự đã xảy ra trong quá khứ một cách chính xác và tỉ mỉ nhất có thể, qua đó Tòa án có thể khẳng định có hay không có các sự kiện, tình
Thủ tục tố tụng thân thiện đối với người chưa thành niên. Các quốc gia trên thế giới đều thống nhất rằng mọi người đều phải được đối xử bình đẳng và chung sống với nhau trong hòa bình và tự do. Điều này là dựa trên niềm tin rằng tất cả mọi người đều
Theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS), trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan, người tiến hành tố tụng (NTHTT) phải triệu tập những người có liên quan đến vụ án để tham gia tố tụng với tư cách là người tham gia tố tụng (NTGTT). Việc xác định không đúng tư cách NTGTT có thể vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định: "1.Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp
Chủ thể có tư cách tham gia tố tụng phải là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân chứ không phải doanh nghiệp tư nhân. Tựu chung hai tiêu chí đã phân tích ở trên, cho thấy doanh nghiệp tư nhân không thỏa mãn hai trong bốn điều kiện cần thiết để một chủ thể có đủ tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp tư nhân 4.
6HUs3S. Tố tụng là gì?Thủ tục tố tụng dân sự là gì?Dịch vụ tư vấn tố tụng Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, các chủ thể thường thắc mắc thủ tục tố tụng là gì? Để giải đáp thắc mắc đó, chúng tôi sẽ cung cấp các thông tin hữu ích trong vấn đề này tới Quý vị trong bài viết dưới tụng là gì?Tố tụng là một bộ phận trong pháp luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến trình tự, thủ tục trang tụng như các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng lao động, tố tụng hành chính,…Có thể nói thủ tục tố tụng được thực hiện trong nhiều quan hệ pháp luật khác nhau, đối với mỗi quan hệ pháp luật cụ thể sẽ có những quy định khác nhau trong thủ tục tố vì phạm vi của thủ tục tố tụng rất rộng lớn, nên trong bài viết này Luật Hoàng Phi xin đề cập trong bài về lĩnh vực dân sự bởi đây cũng là vấn đề đang được quan tâm của rất nhiều người hiện tục tố tụng dân sự là gì?Trước khi tìm hiểu về thủ tục này được diễn ra như thế nào, chúng ta cần tìm hiểu trong lĩnh vực pháp luật dân sự thì tố tụng là gì bởi vì khái niệm của tố tụng trong lĩnh vực dân sự rất rộng cần phải có sự tìm hiểu kỹ tụng dân sự là trình tự, thủ tục yêu cầu hoặc khởi kiện Tòa án nhân dân để có thể xem xét và phân giải công bằng cho việc dân sự hoặc vụ án dân sự mà mình cần giải quyết, cùng với đó là các quy định khác có liên tục tố tụng dân sự được quy định gồm nhiều bước khác nhau, tuy nhiên để tóm lược thông tin chính thì có thể được liệt kê làm 04 bước khi tiến hành giải quyết vụ án dân sự, cụ thể gồm– Thụ lý án. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ căn cứ quy định quyền hạn của mình để có thể tiếp nhận các hồ sơ khởi kiện và trả lời rằng có hoặc không có thẩm quyền tiếp nhận đơn cho người khởi kiện;– Hòa giải vụ án dân sự. Thẩm phán trụ trì hòa giải, nếu các bên không tìm được thỏa thuận chung thì sẽ được tiến hành xét xử;– Chuẩn bị xét xử. Tùy từng lĩnh vực khác nhau trong quan hệ pháp luật dân sự, Tòa án sẽ được chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu để chuẩn bị mở phiên tòa xét xử.– Mở phiên tòa xét xử thì Tòa án nhân dân sẽ căn cứ theo quy định của pháp luật cùng các chứng cứ mà đương sự khiếu nại để giải đây là các bước cơ bản trong quá trình đi đến xét xử một vụ án dân sự, để hiểu tố tụng là gì trong lĩnh vực dân sự thì Quý vị có thể tìm hiểu các bài viết liên quan trên website Luật Hoàng Phi hoặc yêu cầu hỗ trợ pháp lý qua tổng đài của công vụ tư vấn tố tụng Chúng tôi có hơn 10 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực khác nhau về tố tụng dân sự, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ tư vấn pháp lý cho Quý vị thông qua Tổng đài hạn chế tối đa những rủi ro mà mình có thể gặp phải, chúng tôi khuyên các Quý vị nên tham khảo và tìm hiểu thật kỹ các quy định pháp luật. Hiểu rõ tố tụng là gì sau đó mới có thể xác định được vụ việc cụ thể của mình có cần tham gia hoạt động tố tụng để giải quyết vọng với những chia sẻ trên, Quý vị có thể hiểu được tố tụng là gì đồng thời nếu Quý khách hàng có thắc mắc liên quan vui lòng liên hệ qua Hotline tư vấn 19006557;
Tôi là luật sư tập sự mới hành nghề nên tôi muốn biết hoạt động tham gia tố tụng của luật sư được pháp luật quy định như thế nào? Làm sao để được cấp Giấy chứng nhận người bào chữa khi tham gia tố tụng? Mong được tư vấn cụ thể. Cám ơn rất nhiều! Hoạt động của luật sư khi tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được quy định ra sao? Hoạt động của luật sư khi tham gia tố tụng hình sự với tư cách là người bào chữa được quy định ra sao? Cần xuất trình các giấy tờ cần thiết nào để được cấp Giấy chứng nhận người bào chữa? Hoạt động của luật sư khi tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được quy định ra sao?Hoạt động của luật sư khi tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật Luật sư 2006 được sửa đổi bởi khoản 14 Điều 1 Luật Luật sư sửa đổi 2012 như sau"Điều 27. Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư...2. Khi tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự, luật sư xuất trình Thẻ luật sư và giấy yêu cầu luật sư của khách hàng. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi luật sư xuất trình Thẻ luật sư và giấy yêu cầu luật sư của khách hàng, cơ quan tiến hành tố tụng cấp Giấy chứng nhận về việc tham gia tố tụng của luật sư, trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý trường hợp người tập sự hành nghề luật sư đi cùng với luật sư hướng dẫn trong các vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này thì khi liên hệ với cá nhân, cơ quan, tổ chức, luật sư hướng dẫn xuất trình Giấy chứng nhận người tập sự hành nghề luật sư và giấy tờ xác nhận có sự đồng ý của khách hàng."Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư được pháp luật quy định như thế nào? Làm sao để được cấp Giấy chứng nhận người bào chữa khi tham gia tố tụng?Hoạt động của luật sư khi tham gia tố tụng hình sự với tư cách là người bào chữa được quy định ra sao?Hoạt động của luật sư khi tham gia tố tụng hình sự với tư cách là người bào chữa được quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật Luật sư 2006 được sửa đổi bởi khoản 14 Điều 1 Luật Luật sư sửa đổi 2012 như sau"Điều 27. Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư...3. Khi tham gia tố tụng hình sự với tư cách là người bào chữa, luật sư được cơ quan tiến hành tố tụng cấp Giấy chứng nhận người bào chữa, Giấy chứng nhận người bào chữa có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ chối hoặc yêu cầu thay đổi Luật sư hoặc luật sư không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật....Trong trường hợp người tập sự hành nghề luật sư đi cùng với luật sư hướng dẫn trong vụ án hình sự theo quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này thì khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận người bào chữa, luật sư hướng dẫn gửi kèm theo Giấy chứng nhận người tập sự hành nghề luật sư và giấy tờ xác nhận có sự đồng ý của khách hàng đến cơ quan tiến hành tố tụng để đề nghị cho phép người tập sự được đi cùng luật sư hướng nhất là ba ngày làm việc hoặc 24 giờ đối với trường hợp tạm giữ, kể từ khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cơ quan tiến hành tố tụng cấp Giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư, trong đó cho phép người tập sự hành nghề luật sư tham gia vụ việc nếu có; trong trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người bị từ chối có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật tố cần liên hệ với cá nhân, cơ quan, tổ chức để thực hiện quyền, nghĩa vụ và các hoạt động có liên quan đến việc bào chữa trong vụ án hình sự, luật sư xuất trình Thẻ luật sư và Giấy chứng nhận người bào chữa của luật sư."Cần xuất trình các giấy tờ cần thiết nào để được cấp Giấy chứng nhận người bào chữa?Các giấy tờ cần thiết cần xuất trình để được cấp Giấy chứng nhận người bào chữa theo khoản 3 Điều 27 Luật Luật sư 2006 được sửa đổi bởi khoản 14 Điều 1 Luật Luật sư sửa đổi 2012 gồm có- Thẻ luật sư;- Giấy yêu cầu luật sư của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc của người khác hoặc văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề hoặc văn bản phân công của Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề với tư cách cá nhân trong trường hợp tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc trong trường hợp thực hiện trợ giúp pháp lý.
- Thực tiễn xét xử cho thấy, việc phân biệt và xác định tư cách tố tụng của Bị hại và các đương sự như Nguyên đơn dân sự, Bị đơn dân sự, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. loại người tham gia tố tụng Xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng các quy định của Bộ luật hình sự BLHS, Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS và các quy định pháp luật có liên quan; việc xác định sai tư cách người tham gia tố tụng sẽ dẫn đến quyết định sai về phần trách nhiệm dân sự, sai về quyền kháng cáo… làm cho việc giải quyết vụ án hình sự không được toàn diện, triệt để. Theo quy định tại Điều 55 BLTTHS thì có 20 loại người tham gia tố tụng trong các giai đoạn tố tụng khác nhau, bao gồm tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố. bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. bị bắt. bị tạm giữ. can. cáo. hại. đơn dân sự. đơn dân sự. có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới vụ án. làm chứng. chứng kiến. giám định. định giá tài sản. phiên dịch, người dịch thuật. bào chữa. bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố. đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác theo quy định của Bộ luật này. Tuy nhiên trong số những người tham gia tố tụng quy định như trên, chủ yếu những người sau đây tham gia tố tụng tại phiên tòa hình sự cáo. hại. đơn dân sự. đơn dân sự. có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới vụ án. làm chứng. giám định. định giá tài sản. phiên dịch, người dịch thuật. bào chữa. bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác theo quy định của BLTTHS. Việc quy định phân biệt những người tham gia tố tụng trong BLTTHS 2015 được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc giải quyết dân sự trong vụ án hình sự. Tư cách tố tụng được xác định về bản chất từ góc độ tố tụng hình sự và tố tụng dân sự. Theo quy định của BLTTHS, về bản chất pháp lý, có một số người tham gia với hai tư cách tố tụng, tùy theo từng lĩnh vực giải quyết vấn đề là hình sự hay dân sự, cụ thể Trong trường hợp bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại hoặc nguyên đơn, thì người đó tham gia tố tụng với hai tư cách Bị cáo trong lĩnh vực hình sự và Bị đơn dân sự trong lĩnh vực tố tụng dân sự; Trong trường hợp Bị hại được bồi thường thiệt hại, thì người đó tham gia với hai tư cách Bị hại trong lĩnh vực hình sự và Nguyên đơn dân sự trong lĩnh vực tố tụng dân sự. Trong các trường hợp này, căn cứ vào quy định tại BLTTHS Tòa án sẽ xác định tư cách tố tụng có quyền và nghĩa vụ bao trùm hơn, đảm bảo lợi ích của người đó cao hơn, đó là bị cáo trong trường hợp thứ nhất và bị hại trong trường hợp thứ hai. cứ để xác định tư cách tố tụng tại phiên tòa hình sự Để xác định đúng tư cách tố tụng tại phiên tòa từ thực tiễn xét xử thông thường được thực hiện theo các căn cứ sau – Quy định của BLTTHS về những người tham gia tố tụng Về Bị cáo Điều 61, Bị hại Điều 62, Nguyên đơn dân sự Điều 63, Bị đơn dân sự Điều 64, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Điều 65… – Quy định của BLTTHS về việc bồi thường hay trả lại tài sản; quy định của BLDS về việc bồi thường thiệt hại. Ví dụ, trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại… – Bản chất của tội phạm được thực hiện. Tùy theo khách thể của tội phạm, đối tượng của tội phạm, chủ thể của tội phạm là ai mà xác định có bị hại hay không; có bồi thường ngoài hợp đồng hay không và bồi thường như thế nào; ai là nguyên đơn, bị đơn dân sự… Vì vậy, định tội danh đúng là điều kiện rất quan trọng để xác định đúng tư cách tố tụng trong vụ án. định tư cách tố tụng của một số người chủ yếu tham gia tố tụng tại phiên tòa Bị can, bị cáo Theo quy định của BLTTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ khi Tòa án thụ lý vụ án, người bị buộc tội tham gia tố tụng với hai tư cách – Bị can Kể từ khi nhận hồ sơ, thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử; – Bị cáo Kể từ khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại Điều 284 BLTTHS quy định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án có thể yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ mà không cần phải trả hồ sơ điều tra bổ sung; đồng thời, theo Điều 60 BLTTHS thì nghĩa vụ bị can là “Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”, khác với bị cáo là “Chấp hành quyết định, yêu cầu của Tòa án” theo Điều 61 BLTTHS. Vì vậy, vấn đề đặt ra trong trường hợp này là Viện kiểm sát có quyền triệu tập, hỏi cung bị can hay không? Nếu có thì ai là người quyết định? Theo quan điểm của tác giả, qua nghiên cứu các quy định của BLTTHS thấy, trong trường hợp này, Viện kiểm sát không có quyền triệu tập, lấy lời khai của bị can vì nếu thấy cần thiết, Viện kiểm sát sẽ tiến hành hỏi tại phiên tòa. Bị hại Theo quy định của Điều 62 BLTTHS, “ Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”. Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì bị hại chỉ có thể là cá nhân hoặc là người đại diện hợp pháp của người đó, so với BLTTHS năm 2003 BLTTHS năm 2015 đã quy định mới về bị hại, theo đó bị hại bao gồm cả các nhân, cơ quan, tổ chức; Để phân biệt bị hại với nguyên đơn dân sự, chúng ta cần xác định bị hại trực tiếp bị thiệt hại khác với nguyên đơn dân sự, bị hại bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại trực tiếp hay nói cách khác đối tượng mà tội phạm hướng tới là bị hại. Từ thực tiễn cho thấy có quan điểm cho rằng đối với cơ quan, tổ chức là bị hại thì không nhất thiết phải bị thiệt hại trực tiếp, mà có thể bị thiệt hại gián tiếp. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả nếu hiểu như vậy thì rất khó để phân biệt bị hại với nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự khi cơ quan, tổ chức bị gây thiệt hại. Đây là những quy định mới để phân biệt bị hại với nguyên đơn dân sự, với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bị hại bị tội phạm gây thiệt hại trực tiếp có nghĩa là thiệt hại của bị hại phải là đối tượng tác động của tội phạm, tức là phải có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả của tội phạm; nguyên đơn bị tội phạm gây thiệt hại gián tiếp. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bị hại không bị tội phạm gây thiệt hại gián tiếp. Cùng với thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra, bị hại còn có thể bị gây thiệt hại gián tiếp nữa. Ví dụ Bị hại trong tội cố ý gây thương tích, ngoài thiệt hại trực tiếp về tổn thương cơ thể, chi phí điều trị, tổn thất về tinh thần; còn có thể bị gây thiệt hại gián tiếp như thu nhập bị mất, giảm sút… Nguyên đơn dân sự Theo quy định của Điều 63 BLTTHS thì “Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Để phân biệt giữa bị hại và nguyên đơn dân sự chúng ta có thể dựa vào các đặc điểm như sau – Bị hại bị tội phạm gây thiệt hại trực tiếp, và có thể cả gián tiếp; còn nguyên đơn dân sự chỉ bị tội phạm gây thiệt hại gián tiếp. Mặc dù Điều 63 BLTTHS không quy định thiệt hại gián tiếp, nhưng điều này xuất phát từ quy định về bị hại tại Điều 62 BLTTHS; – Do bị thiệt hại gián tiếp, nên để được bồi thường thiệt hại, nguyên đơn phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại đây là quy định bắt buộc đối với nguyên đơn dân sự, tức là phải có đơn yêu cầu bằng văn bản hoặc thể hiện trong biên bản ghi lời khai thể hiện yêu cầu bồi thường thiệt hại gửi đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Như vậy, tham gia tố tụng là quyền, chứ không phải là nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự. Nếu không muốn thực hiện quyền tham gia tố tụng, cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ cần không làm đơn yêu cầu hoặc không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Còn nếu cơ quan tiến hành tố tụng muốn họ tham gia tố tụng nhằm làm sáng tỏ tình tiết vụ án thì triệu tập với tư cách là người làm chứng, nếu thỏa mãn các dấu hiệu của người làm chứng; – Nếu bị hại có các quyền, nghĩa vụ tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án cả về hình sự và dân sự; thì nguyên đơn dân sự chỉ có các quyền, nghĩa vụ tố tụng liên quan đến việc bồi thường. Do đó để xác định tư cách tố tụng đúng, cần làm rõ trong vụ án cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tội phạm gây thiệt hại trực tiếp hay gián tiếp để từ đó thực hiện các thủ tục tiếp theo. Bị đơn dân sự Theo Điều 64 BLTTHS, “Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”. Theo khái niệm trên thì bị đơn dân sự không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị can, bị cáo nhưng trong vụ án mà tội phạm có gây thiệt hại và phải bồi thường, như một số trường hợp người phạm tội không có năng lực hành vi dân sự, để đảm bảo lợi ích cho người bị thiệt hại hoặc các đảm bảo xã hội khác… thì pháp luật quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức khác phải có trách nhiệm bồi thường thay cho người phạm tội. Ví dụ Cha mẹ bồi thường cho người dưới 16 tuổi phạm tội không có tài sản riêng gây thiệt hại; chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ bồi thường trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại… Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Điều 65 BLTTHS quy định “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự”. Từ khái niệm trên có thể thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức. Theo nhận thức chung thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có các đặc điểm là họ không liên quan gì đến hành vi phạm tội được thực hiện; nhưng quyết định của Tòa án lại liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có 9 quyền từ điểm a đến điểm i, khoản 2 Điều 65 BLTTHS và có 03 nghĩa vụ điểm a, b, c khoản 3 Điều 65 BLTTHS. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người không tham gia thực hiện tội phạm và Tòa án phải giải quyết quyền lợi, tài sản của họ vì liên quan đến vụ án hình sự. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thường là chủ sở hữu tài sản, nhưng tài sản đó lại có trong tay người phạm tội; hoặc người được người phạm tội giao cho tài sản, mà tài sản đó là do phạm tội mà có…Ví dụ H mượn xe máy của K đi chơi và sử dụng xe thực hiện hành vi cướp giật. Trong trường hợp này, việc Tòa án quyết định tịch thu hay không tịch thu chiếc xe liên quan đến lợi ích của K. Vì vậy, K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Việc không liên quan gì đến tội phạm là dấu hiệu phân biệt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với những người tham gia tố tụng khác. Chúng ta không nên nhầm lẫn giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án với những người có hành vi phạm tội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc vì có lý do nào đó mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự như trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự… Theo quy định của BLTTHS thì những người này có thể được Tòa án triệu tập với tư cách là người làm chứng./. Tòa án tp Kon Tum mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự – Ảnh Đức Nhuận/ Báo KT
tư cách tố tụng là gì